Hội An - Di Sản Văn Hoá Thế Giới

Phố cổ Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn. Nơi đây xưa kia đã có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Ðào Nha, Italia v.v.. đã biết đến từ thế kỷ 16, 17. Từ thời đó, thương cảng Hội An đã thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ chính của thương thuyền vùng Viễn Ðông.

Phố cổ có những dãy phố cổ gần như nguyên vẹn, đó là loại nhà hình ống xuyên suốt từ phố nọ sang phố kia. Trong đó có một dãy phố nằm sát ngay bờ sông Hội An. Nhà ở đây toàn bằng gỗ quý, trong nhà treo hoành phi, câu đối, cột nhà trạm trổ hoa văn rất cầu kỳ... Hội An là một bảo tàng sống, khu phố cổ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới.

hoian

Thành phố nằm trên đất Quảng Nam này từng là nơi chứng kiến hai cuộc giao thoa văn hoá lớn trong lịch sử dân tộc Việt: Lần thứ nhất cách đây hơn 5 thế kỷ, khi nước đại Việt tiến về phương Nam mở mang bờ cõi, và lần thứ hai cách đây hai thế kỷ, khi người phương tây theo các chiến thuyền và thương thuyền đặt chân lên mảnh đất này với ý đồ truyền bá và thôn tính. Cả hai sự kiện lớn đó đều kéo theo tương tác văn hoá lớn lao và nền văn hóa Việt đã vượt qua thử thách đồng hoá để tự cải biến và tồn tại cùng thời cuộc. Giờ đây, du khách tới Hội An, ngoài việc khám phá sự bình dị chân thật trong tâm hồn người dân phố Hội, sẽ mất nhiều thời gian chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính và tĩnh lặng của các mái ngói phủ rêu xanh mướt và nét chạm trổ tinh vi trong những căn nhà gỗ đã tồn tại từ hơn ba trăm vòng quay xuân hạ thu đông.

Bước chân vào khu phố cổ, du khách sẽ ngỡ ngàng trước một thế giới biệt lập, tách khỏi mọi dòng chẩy và sức phá huỷ của thời gian. Không có tiếng động cơ gầm rú cũng chẳng có những thương hiệu rực rỡ đèn mầu. Tất cả đã lùi xa sau lưng, cả không gian và thời gian đều lắng đọng trong những nếp nhà gỗ cổ xưa. Cầu chùa, dẫy nhà cổ hai tằng quay lưng phía bến sông Hoài, Hội quán Quảng Ðông, Phúc Kiến... đang lặng lẽ tồn tại để con người hoài niệm về một thời quá khứ. Ðặc biệt, khu phỗ cổ mạng một vẻ lãng mạng, sâu lắng và bình yên dưới ánh đèn lồng huyền ảo mỗi đêm 14 âm lịch hàng tháng. Xưa kia, nếu như người Việt quen dùng đĩa đèn dầu lạc, thì người Nhật Bản và Trung Hoa đã đưa tới Hội An thói quen sử dụng đèn lồng.

5

Sáng kiến khôi phục việc thắp đèn lồng thay cho ánh sáng điện từ mùa thu năm1998 đã mang lại hiệu quả không ngờ ngay từ buổi đầu tiên. Vào mỗi đêm 14 âm lịch, mọi sinh hoạt của thị xã bình yên này được quay trở về với tập quán của hơn 300 năm trước, và khu phố cổ nằm trong giới hạn của bốn con đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Ðằng đã hàng loạt tắt đèn và treo trước hiên nhà những ngọn đèn lồng huyền ảo.

Dù toả sáng nhờ ngọn điện thông thường, song ánh sáng của đèn lồng mờ dịu và phảnh phất dấu ấn của thời gian xưa cũ. Những chiếc đèn tròn, lục lăng theo phong cách Trung Hoa treo dưới mái hiên và hai bên cửa ra vào, đèn quả trám hoặc ống dài kiểu Nhật Bản phất giấy trắng lơ lửng dọc theo hàng cột, đèn trụ vuông, đèn quả trám to nhỏ các cỡ... tất cả đã tạo lên một thế giới lung linh, huyền ảo. Trong đêm hoa đăng, phố cổ đã tự nguyện ngừng sử dụng các thiết bị điện như TV, đèn đường, đèn neon... nhưng người dân Hội An không thấy đó là điều bất tiên cho cuộc sống của mình.

Cường độ ánh sáng giảm đi, song chất men say của thị xã lãng mạn đã bốc mạnh trong mỗi con người khi đi qua phố cổ.Trong ngôi nhà cổ rêu phong, bóng người phụ nữ áo dài thời trước cặm cụi làm việc dưới ánh đèn lồng được tạo thành từ chiếc nơm cá giản dị, bên vỉa hè, hai người già râu tóc bạc phơ đang chìm đắm vào suy nghĩ với ván cờ tướng thắp sáng bởi ngọn nến lung linh... Dường như con người đang được sống với dĩ vãng khi mà những phiền toái của cuộc sống hiện tại chưa hiện hữu.

Trong bầu không khí cổ tích đó, hãy kiểm nghiệm sự hiện hưu bằng việc nếm một vài món ăn phong vị xứ Quảng như bánh Bo, bánh Vạc, Cao lầu tại các nhà hàng còn giữ nguyên hình ảnh đầu thế kỷ. Tại tiệm ăn FaiFo trên đường Trân Phú, những chiếc đèn lồng nhỏ xíu hình dáng cổ điển chiếu một nguồn ánh sáng vàng ấm áp, hoà điệu cùng cặp đèn lớn có dán lời cầu ước chữ Hán theo phong tục cổ xưa trước mái hiên. Ðộc đáo hơn là cách bài trí của tiệm cafe có tên "Treated". Tại đây, người chủ đã khoét thủng trần gỗ và lồng vào những chiếc rá tre vo gạo bình dị. Hàng lỗ thủng đều đặn của rá tre đã tạo ra một nguồn ánh sáng ngộ nghĩnh và độc đáo. Có phải người chủ nào cũng đủ cam đảm khoét thủng trần gỗ của nhà mình ra ?

Hiện diện trên phố Hội An là vô số các cửa hàng bầy bán các loại đèn lồng làm kỷ niệm. Tuỳ theo chất liệu vải bọc ngoài mà ngọn đèn đưa tới những loại ánh sáng khác nhau. Ðó có thể là mầu đỏ may mắn, mầu vàng tươi vui, mầu gấm huyết diụ kiêu sa hay sắc xanh lãnh lẽo. Tuy nhiên khó so sánh được với những chiếc đèn lồng có tuổi hàng thế kỷ đang được các gia đình sinh sống lâu đời ở đây gìn giữ và chỉ chưng ra trong đêm hội hoa đăng. Những ngọn đèn này được chế tác từ gỗ quý, chạm trổ cầu kỳ và trên mỗi tấm kính là một tác phẩm hội hoạ thật sự. Các tích truyện cổ nổi tiếng được nghệ nhân xưa vẽ trên kính, sinh động và hoàn hảo như một bức tranh đắt giá. Mỗi khi ngọn nến bên trong toả sáng, cảnh mây trắng, trời xanh hoặc nước biếc sẽ liên tục quay tròn, hắt bóng các chi tiết lên mặt kính.

Khung cảnh và ánh sáng kỳ ảo trong khu phố cổ quyện với giọng ca bài chòi, hò khoan, giã gạo... vẳng lên từ con thuyền đậy dưới bến sông, dưới mái hiên, nơi đầu phố... tạo ra sức cuốn hút kỳ lạ đối với du khách. Không quá trang nghiêm như Cố Ðô Huế, không quá sôi động như chợ Lớn, nét cổ truyền nơi đây mang một vẻ thuần khiết, thu hút những tâm hồn ưa chuộng lãng mạn của những ngày xa xưa.

Các điểm tham quan trong lòng phố cổ :

Chùa Cầu (Nhật Bản)

Được xây dựng đầu thế kỷ XVII, là công trình kiến trúc duy nhất được coi là có gốc tích Nhật Bản còn lại. Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều. Chùa Cầu là một tài sản văn hóa quý giá, một biểu tượng độc đáo của Hội An, mà bất cứ người khách nào đến Hội An cũng không thể bỏ qua.

news trang mat tai viet nam duoi goc nhin cua du khach nuoc ngoai 07


Năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.
Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều. Trong chùa không thờ Phật mà thờ Bắc Đế Trấn Võ. Chùa Cầu đã được trùng tu nhiều lần nhưng vẫn giữ được những yếu tố gốc và dáng vẻ cổ kính.
Chùa Cầu là một tài sản văn hóa quý giá, một biểu tượng độc đáo của Hội An, mà bất cứ người khách nào đến Hội An cũng không thể bỏ qua.
Chùa Cầu nằm ở đoạn tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Trần Phú.

Nhà cổ Quân Thắng : ( Số 77 đường Trần Phú)
Được xây dựng cách đây hơn 200 năm và được bảo tồn nguyên vẹn. Đến đây du khách sẽ được nhiêm ngưỡng những mảng chạm khắc điêu luyện, tinh tế của người xưa.

Nhà cổ Tấn Ký : ( Số 101 đường Nguyễn Thái Học)
- Có tuổi thọ gần 200 năm và được đánh giá là đẹp nhất trong các ngôi nhà cổ ở Hội An. Tại đây gia đình chủ nhân đang sinh sống bình thường và mặc dù đã qua 7 thế hệ, song ngôi nhà và các đồ vật trang trí trong nhà vẫn giữ ở vị trí nguyên vẹn như xưa.

Nhà cổ Phùng Hưng : ( Số 4 đường Nguyễn Thị Minh Khai).
Nhà 2 tầng được xây dựng từ năm 1780, vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ quý, đặc biệt có hơn 80 cây cột trụ bằng gỗ lim. Hiện nay những người sống trong ngôi nhà này là con cháu của những người đã xây cất nó. Tại đây có bán hàng lưu niệm bằng đồng, đá, gỗ, tranh...đây còn là nơi sinh hoạt thường kỳ của Câu lạc bộ thơ Đường Hội An.

Hội quán Triều Châu : ( Số 157 đường Nguyễn Duy Hiệu)
Được xây dựng năm 1845, tại đây thờ Phục Ba tướng quân - người được coi là có thể làm cho sóng yên biển lặng. Dân quanh vùng thường đến đây để vay tiền của thần . Hội quán Triều Châu là điểm tham quan không thể bỏ qua đối với bất cứ ai quan tâm đến nghệ thuật điêu khắc gỗ trình độ cao ở thế kỷ XIX.

Hội quán Phúc Kiến : ( Số 46 đường Trần Phú )
Được xây dựng năm 1697 nổi tiếng bởi vẻ đẹp nguy nga, tráng lệ mang uy nghiêm trong một không gian rộng lớn. Ngoài thờ thần, thờ tổ tiên, đây còn là địa điểm họp đồng hương của người Phúc Kiến.

Hội quán Quảng Đông : ( Số 17 đường Trần Phú)
Được xây dựng năm 1885 (trùng tu 2 lần: 1915&1990) . Tại đây lưu giữ khá nhiều tư liệu cổ của người Hoa ở Hội An. Đặc biệt trong chùa có trưng bày rất nhiều tượng gỗ nhỏ theo từng nhóm với những dáng vẻ khác nhau.

Chùa Ông : (Số 24 đường Trần Phú)
Được xây dựng năm 1653 với kiến trúc uy nghi, hoành tráng, đã qua 6 lần trùng tu. Chùa Ông (còn gọi là Quan Công Miếu) thờ Quan Vân Trường một biểu tượng về lòng trung hiếu tiết nghĩa theo tiêu chuẩn của Khổng giáo; Nơi đây đã từng là trung tâm tín ngưỡng của Quảng Nam xưa, người ta thường đến đây xin xăm cầu may.

Bảo tàng lịch sử-Văn hóa : ( Số 07 đường Nguyễn Huệ)
Được xây dựng vào năm 1653 (nguyên là chùa Quan Âm); Với nhiều hiện vật gốc và tư liệu giá trị, Bảo tàng lịch sử-Văn hóa Hội An phản ảnh sự phát triển của Hội An qua các thời kỳ.

Bảo tàng gốm sứ mậu dịch : (Số 80 đường Trần Phú)
Là bộ sưu tập quý hiếm về “Con đường gốm sứ trên biển” vào thế kỷ thứ 16-17 mà Hội An là một trong những trung tâm. Tại đây trưng bày nhiều mẫu vật gốm sứ cổ được sưu tầm qua các đợt khai quật các di tích và trục vớt tại khu vực biển Cù Lao Chàm....

Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh : ( Số 149 đườngTrần Phú)
Với các hiện vật khảo cổ có niên đại hàng nghìn năm, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh khẳng định sự tồn tại và phát triển rực rỡ của một nền văn minh tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh. Đặc biệt tại đây có trưng bày các mộ chum bằng đất nung và các đồ tùy táng.

Nhà thờ tộc Trần : ( Số 21 đường Lê Lợi )
Do một vị quan họ Trần xây dựng năm 1802, chịu ảnh hưởng của kiến trúc Nhật Bản và Trung Quốc ; Với vẻ đẹp thiêng liêng và nghiêm trang, tại đây ngoài những di vật và tiểu sử của những người trong dòng họ còn lưu giữ những di vật của chủ nhân như kiếm, bộ triện.

Khu phố cổ Hội An

Vị trí: thuộc Thành Phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Đặc điểm: Với những giá trị nổi trội mạng tính toàn cầu tại kỳ họp thứ 23 từ ngày 29/11 đến ngày 4/12/1999 ở Marrakesh (Morocco), ủy ban Di sản thế giới của UNESCO đã công nhận Đô thị cổ Hội An là Di sản văn hoá thế giới.

hoi an

Khu phố cổ Hội An là mẫu hình tồn tiêu biểu về một cảng thị truyền thống Đông Nam Á trong giai đoạn thế kỷ 15 -16. Cảng thị này có mầm mống sơ khai từ trước Công nguyên với nền văn hoả Sa Huỳnh được tiếp tục phát triển dưới thời Chăm (thế kỷ 2 sau CN - thế kỷ 15) và cực thịnh trong thời Đại Việt, Đại Nam (thế kỷ 15 - thế kỷ 19). Bên cạnh cảc di tích, di chỉ khảo cổ có niên đại trên 2000 - 3000 năm là một số lượng lớn di tích kiến trúc, chủ yếu làm bằng gỗ có niên đại phổ biến từ thế kỷ 17 - 19.

Năm 1999, đã c6 1360 di tích, danh thắng với nhiều loại hình được thống kê. Đó là những đình, chùa, lăng, miếu, mộ, cầu, giếng nhà thờ tộc thánh thất, hội quán, nhà ở ... phân bố theo những trục đường truyền thống nhỏ hẹp, vừa mang đậm sắc thái địa phương Việt Nam, vừa thể hiện rõ sự giao lưu hội nhập văn hoá mạnh mẽ với các nước phương Đông và phương Tây. Liên tục trong nhiều thế kỷ, những giá trị văn hoá truyền thống của nhân dân Hội An cùng với phong tục tập quán, các sinh hoạt, vui chơi, giải trí, cũng như các món ăn xưa vẫn được giữ gìn, và phát huy tương đối tốt.

Du lịch Quế Sơn

Vị trí: Huyện Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam.

Đặc điểm: Là một huyện có nhiều Danh thắng du lịch: thiên nhiên đẹp và kỳ thú, tạo nên một tua liên hoàn khi bạn đến thăm huyện này.Cách quần thể di tích Mỹ Sơn (Duy Xuyên) chưa đầy 3km theo đường chim bay về hướng tây là suối nước nóng Tây Viên. Nơi đây được hình thành sau những cơn địa chấn trong lòng đất hàng triệu năm về trước. Hai suối nước trong vắt quanh năm tuôn chảy. Nhiệt độ trung bình của dòng nước khoảng 85 độ C. Người dân nơi đây quen gọi là suối ông và suối Bà. Trong nước chứa nhiều khoáng chất quý báu của thiên nhiên như: can xi, kali, lưa huỳnh, sắt. . . và nhiều chất khác là địa điểm lý tưởng cho du khách ngâm mình trong nước nóng, tắm bùn, thư giãn chữa bệnh.

Cách Tây Viên gần 5km về hướng đông, suối Tiên thuộc địa phận xã Quế Hiệp là một trong những con suối đẹp nhất miền Trung. Nếu bạn đứng trên Hòn Đền, ngọn núi trông như vầng trăng khuyết cắt đôi làm bức bình phong che chắn cho khu di tích Mỹ Sơn, nhìn về phía trước mặt, sẽ thấy 13 ngọn thác trắng xóa ào ào tuôn chảy. Nhìn xa trông như dải lụa trắng giăng giữa đại ngàn xanh thẳm của núi rừng. Hai bên suối là những ngọn núi đá dựng đứng chọc thẳng giữa trời xanh. Ánh nắng chiều tương phản tạo ra những màu sắc kỳ ảo trông như một bức tranh khổng lồ mà thiên nhiên ban tặng cho khu rừng nguyên sinh này.

Từ khu suối nước nóng Tây Viên chạy dọc theo hướng tây chưa đầy 2,5 km, làng văn hóa Đại Bình nép mình bên dòng sông Thu Bồn quanh năm xanh biếc. Du khách tha hồ nghỉ ngơi trong những gian nhà cổ, tận hưởng cây trái miền quê không khác nào bạn đang lọt vào vừng cây trái Nam Bộ. Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, lòn bon, cam, bưởi là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng.

Đò chạy dọc theo triền sông về thượng nguồn. Hai bên bờ sông là những bãi dâu xanh bạt ngàn xa khuất tầm mắt. Du khách có thể cắm thuyền trên bất kỳ trên cồn cát trắng nào trên sông dọc theo làng Khánh Bình, làng Bình Yên, làng Phú Gia xinh đẹp, trước khi dừng chân tại Hòn Kẽm Đá Dừng, một địa danh đẹp nổi tiếng đã đi vào thơ ca đất Quảng:

Tiếng lốc cốc gõ vào mạn thuyền đuổi cá của những người chài lưới trên sông, làm cho bầy cá hoảng loạn và bạn có thể trở thành người dân chài tắm sông đánh cá nếu bạn muốn. Dòng sông chảy cắt ngang hai ngọn núi đứng. Những vách đá như con đê khổng lồ ngăn đôi dòng nước. Một đêm yên nghỉ giữa trời không dưới chân Hòn Kẽm Đá Dừng, với du khách, chắc chắn sẽ khó mà quên.

Chưa hết, khi đò về xuôi, du khách qua khỏi đèo Le, qua dòng nước mát dừng chân nơi con suối hiền hòa và mát lạnh không khác nào phong cảnh Suối Tiên. Nếu bạn là người yêu nghệ thuật truyền thống, có thể ghé lại làng Quế Châu, nơi đây từ đứa trẻ chăn trâu cho đến người nông dân một nắng hai sương ai cũng biết hát tuồng cổ. Bạn còn có thể ghé thăm làng Nón, làng Rèn ở Quế Minh nổi tiếng nhất Đàng Trong một thời. Chiếc nón là và chùm lòn bon chín mọng sẽ là món quà cho người thân sau cuộc hành trình về một vùng đất xinh tươi thắm đượm tình người.

Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh

Vị trí: Khu bảo tồn Sông Thanh nằm trên địa bàn hai huyện Nam Giang và Phước Sơn, giáp biên giới nước CHDCND Lào thuộc tỉnh Quảng Nam.

Đặc điểm: Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và độc đáo. Với diện tích gồm 93.249ha vùng lôi và l08.398ha vừng đệm. Riêng khu khu vùng lõm được chia thành hai khu bảo vệ nghiêm ngặt với 75.373ha và khu phục hồi sinh tháí với 17.512ha.

Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh là nơi ẩn chứa bao điều kỳ thú, hấp dẫn du khách và các nhà nghiên cứu khoa học bởi sự phong phú và độc đáo của nguồn tài nguyên thiên nhiên.Tổng số 831 loài thực vật bậc cao đã được ghi nhận qua các đợt khảo sát năm 1997 và 1999 do WWF - Đông Dương và Viện Điều tra Qui hoạch Rừng Việt Nam thực hiện. Trong số đó có 23 loài hữu dụng, 38 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

Hệ động vật rừng của khu bảo tồn này cũng rất đa dạng với danh mục gồm 53 loài thú. 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 25 loài cá... Kết quả khảo sát cũng cho thấy sự hiện diện của nhiều loài thú lớn và hiếm như hổ, báo, voi, voọc cá chân nâu. voọc cá chân xám, mang Trường Sơn... Đến khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh, du khách còn có thể chiêm ngưỡng thác Grăng, cầu Thác Nước và những cảnh đẹp nên thơ nằm dọc trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, hoặc đi tìm và khám phá những nét đặc trưng trong đời sống văn hoá vô cùng phong phú của đồng bào các dân tộc ít người

Cù lao Chàm

Vị trí: Quần đảo cù lao Chàm cach thị xã Hội An 31km về phía biển Đông., tỉnh Quảng Nam.

Đặc điểm: Là quần đảo cù lao Chàm gồm 8 đảo nhỏ nối sát nhau: Hòn Lao, hòn Khô Mẹ, hòn Khô Con, hòn Tai, hòn Dài, hòn Lá, hòn Mồ, hòn ông.
Đảo Yến có vách đá dựng đứng là nơi thuận tiện cho chim ẻn về làm tổ, trên đảo hiện có công ty Yến - Quảng Nam làm nhiệm vụ khai thác yến để xuất khẩu và bảo vệ đàn yến.

culaocham04

Đảo lớn nhất là đảo Rùa có hình dáng như con rùa, ở bên phải đảo Yến, nơi đây có đông dân cư sinh sống làm nghề đánh cá, có cả chùa. chợ và trường học. Đặc biệt cù lao Chàm có món đặc sản địa phương là vú nàng và vú xao là hai loài nhuyễn thể trên lưng phủ một lớp vỏ xà cừ hình nón to cỡ từ vài ngón tay đến nửa bàn tay. Loài này sống bám vào đá dưới nước, thường được chế biến thành các món ăn có hương vị đặc biệt. Tại đây du khách sẽ tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, tắm biển, du thuyền trong bầu không khí trong lành.

Di sản văn hóa Thế Giới  Thánh Địa Mỹ Sơn

Vị trí: Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10km về phía tây trong một thung lũng kín đáo.

Đặc điểm: Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Đấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa.

my son sanctuary 1024x682

Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadravarman. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn. Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay.

Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ. Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadravarman, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tồ tiên hoàng tộc.

Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ 20 này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903- 1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.

Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo văn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Siva Bhadravarman. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ 6, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối thế kỷ 4 đến thế kỷ 15.

Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Đền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy hoàng của văn hoá kiến trúc Chămpa cũng như của Đông Nam Á.

Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗí đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác chia làm 3 phần: Đế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tưọng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử... động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.

Theo các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm tại Mỹ Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ 7 đến thế kỷ 8; phong cách Hoà Lai thế kỷ 8 đến thế kỷ thứ 9; phong cách Đồng Dương từ giữa thế kỷ 9; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và Bình Định; phong cách Bình Định... Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp ,cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cồ nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chămpa, có 2 cửa ra vào phía Đông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phự. toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen.

Tầng trên chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái.Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực Mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969. Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Đà Nẵng đặt tại bảo tàng kiến trúc Chàm. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, nó là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

Mỹ Sơn đã được trùng tu bởi E.F.E.O (Ecole Francaise d'Extreme Orient) trong thời gian từ 1937 đến 1944, nhưng khu vực này đã bị bom Mỹ tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Đến năm 1975 , trong số 32 di tích còn lại, chỉ có khoảng 20 đền , tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu. Từ năm 1981 đến 1991 , Mỹ Sơn được bảo quản và tu sửa từng phần với sự giúp đỡ về chuyên môn của công ty P.K.Z (Ba Lan). Phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Mỹ Sơn đã được người Pháp thu gom về Đà Nẵng vào những năm đầu thế kỷ 20 và được trưng bày tại bảo tảng Chàm. Khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới tháng 12 năm 1999.

Các bài viết cùng chuyên mục